Vị cựu Bộ trưởng nói về DN "thách thức" lý thuyết trời Tây và kỳ tích "Việt Nam xuất khẩu bằng cả châu Phi"

Admin
Trong những thời điểm khó khăn nhất của đất nước - từ khủng hoảng kinh tế đến thiên tai, dịch bệnh - đây luôn là một trụ đỡ, giúp giữ ổn định đời sống xã hội.
Vị cựu Bộ trưởng nói về DN "thách thức" lý thuyết trời Tây và kỳ tích "Việt Nam xuất khẩu bằng cả châu Phi"- Ảnh 1.

“Nếu TH True Milk thành công, thì những gì tôi từng học ở phương Tây có lẽ phải xem lại,” cựu Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Cao Đức Phát nhớ lại, khi nói về một trong những ví dụ điển hình cho thấy quyết tâm và tầm nhìn có thể đưa doanh nghiệp đi vượt lên những lý thuyết về quản lý.

Việt Nam không phải là quốc gia có lợi thế vượt trội về diện tích hay điều kiện tự nhiên cho nông nghiệp. Với quỹ đất chỉ 331.000 km², dân số hơn 100 triệu người, khí hậu ngày càng biến đổi theo hướng khắc nghiệt và xuất phát điểm là một quốc gia thiếu đói sau chiến tranh, nông nghiệp Việt Nam từng được xem là có nền tảng nhiều bất lợi.

Thế nhưng, chỉ trong vài thập kỷ, Việt Nam đã vươn lên, trở thành một trong những cường quốc xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Theo ông Cao Đức Phát, năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp ước đạt khoảng 70,6 tỷ USD – tương đương tổng kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp của toàn châu Phi cộng lại.

“ Số lượng lương thực thực phẩm mà nước ta xuất khẩu đủ để nuôi sống hơn 100 triệu người ngoài lãnh thổ Việt Nam ” , ông nói. “ Và trong rất nhiều ngách nhỏ như hồ tiêu, hạt điều, cà phê, gạo, cao su, thuỷ sản…, Việt Nam thậm chí là nước có sức ảnh hưởng lớn tới giá nông sản thế giới” .

Vị cựu Bộ trưởng nói về DN "thách thức" lý thuyết trời Tây và kỳ tích "Việt Nam xuất khẩu bằng cả châu Phi"- Ảnh 2.

Nhìn lại chặng đường đó, ông Phát cho rằng kỳ tích không đến từ may mắn. Vị thế nông nghiệp Việt Nam hôm nay được xây bởi khả năng ứng dụng khoa học công nghệ, cùng sự xuất hiện của những doanh nghiệp dám đi trước, chấp nhận rủi ro để bước vào “vùng xám” chưa từng có tiền lệ chính sách. Trong dòng chảy ấy, các cá nhân và tập thể được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động (AHLĐ) giữ vai trò đặc biệt.

“ Họ làm tốt việc của mình và bằng chính thực tiễn ấy, đã tạo ra chuẩn mực mới cho cả ngành ”.

Trong số nhiều doanh nghiệp nông nghiệp từng được phong tặng danh hiệu AHLĐ, tại khuôn khổ bài viết này, ông Phát đặc biệt đề cập đến hai doanh nghiệp trong ngành vừa được phong tặng AHLĐ Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI diễn ra hồi cuối tháng 12/2015.

Vị cựu Bộ trưởng nói về DN "thách thức" lý thuyết trời Tây và kỳ tích "Việt Nam xuất khẩu bằng cả châu Phi"- Ảnh 3.

Một trong số những mô hình khiến tư duy quản lý phải thay đổi, theo ông Phát, chính là TH True Milk. Ngay từ đầu, ông thừa nhận bản thân mình đã lo ngại về rất nhiều rủi ro. “Lý do rất rõ ràng. Chăn nuôi bò sữa quy mô công nghiệp vốn được xem là phù hợp với những vùng khí hậu ôn đới. Trong khi đó, Việt Nam là quốc gia nhiệt đới, còn Nghệ An – nơi TH đặt đại bản doanh – lại là vùng đất gió Lào khô nóng khắc nghiệt. “Mặc dù lúc đó bà Hương đã chọn Nghĩa Đàn - một nơi có khí hậu tương đối mát mẻ tại Nghệ An nhưng dù sao, khí hậu Việt nam nói chung và Nghệ An nói riêng đều không thuận lợi để nuôi bò sữa”.

Theo tư duy “thuận thiên” truyền thống hay theo lý thuyết về lợi thế cạnh tranh hiện đại, đây cũng không phải là địa bàn lý tưởng cho một ngành công nghiệp sữa quy mô lớn.

“ Thông thường, phát triển nông nghiệp phải dựa vào lợi thế sẵn có, ” ông Phát phân tích. “Những lợi thế ấy đến từ điều kiện tự nhiên, và thứ hai là nhờ khoa học  công nghệ.”

Vị cựu Bộ trưởng nói về DN "thách thức" lý thuyết trời Tây và kỳ tích "Việt Nam xuất khẩu bằng cả châu Phi"- Ảnh 4.

TH True Milk đã chọn con đường thứ hai – hướng đi khó khăn, tốn kiém và rủi ro hơn. Thay vì chấp nhận giới hạn của tự nhiên, doanh nghiệp này chủ động nhập khẩu, làm chủ và đồng bộ hóa những công nghệ tiên tiến nhất của ngành sữa thế giới, từ quản trị đàn bò, dinh dưỡng, thú y, đến chế biến và kiểm soát chất lượng sản phẩm.

Kết quả là chỉ trong một thời gian tương đối ngắn, TH True Milk đã xây dựng được hệ thống trang trại bò sữa công nghệ cao thuộc nhóm lớn nhất khu vực ASEAN. Từ thương hiệu mới toanh, hoàn toàn xa lạ với người tiêu dùng, doanh nghiệp đã chiếm lĩnh thị phần không nhỏ trong nước, xuất khẩu ra nhiều thị trường quốc tế và đầu tư lớn ở Nga.

Vị cựu Bộ trưởng nói về DN "thách thức" lý thuyết trời Tây và kỳ tích "Việt Nam xuất khẩu bằng cả châu Phi"- Ảnh 5.

Dự án sữa TH trong nước với “thủ phủ” là Nghệ An sở hữu đàn bò quy mô gần 70.000 con, Cụm trang trại tập trung công nghệ cao khép kín đạt kỷ lục lớn nhất thế giới (Liên minh Kỷ lục xác nhận năm 2020)

“Bản thân tôi cũng nghĩ đó là một con đường rất rủi ro ”. Ông Phát nhớ lại nhiều cuộc trao đổi với bà Thái Hương – người đứng đầu TH – trong những thời điểm doanh nghiệp vướng mắc các nút thắt chính sách. “ Chị Hương là người rất quyết liệt trong công việc và tâm huyết với ngành sữa. Chị vẫn gặp tôi khi có việc. Và tôi sẽ giúp trong phạm vi không phải để bảo vệ doanh nghiệp, mà là bảo vệ cái đúng ”, ông nhấn mạnh.

Vị cựu Bộ trưởng nói về DN "thách thức" lý thuyết trời Tây và kỳ tích "Việt Nam xuất khẩu bằng cả châu Phi"- Ảnh 6.

Khi TH True Milk thành công, rất nhiều người tự hào. Trong số đó, có ông Phát. “ Ý nghĩa lớn nhất của TH True Milk không chỉ nằm ở quy mô hay thị phần, mà ở chỗ doanh nghiệp này đã mở ra một cách tiếp cận mới: nông nghiệp hoàn toàn có thể vượt qua giới hạn tự nhiên bằng khoa học công nghệ, nếu có tầm nhìn dài hạn và tổ chức sản xuất bài bản ” .

Chính từ thực tế ấy, tư duy phát triển ngành sữa đã dịch chuyển. Việt Nam đi theo hai hướng: vừa có doanh nghiệp quy mô lớn, vừa hỗ trợ chăn nuôi bò sữa theo nông hộ. Chúng ta đã sản xuất sữa công nghiệp, chất lượng cao nhưng giá cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu nội địa và xuất khẩu, xây dựng vị thế trên bản đồ thế giới.

Con đường của TH True Milk cũng là minh chứng cho một kiểu Anh hùng Lao động mới của nông nghiệp Việt Nam – nơi tri thức, công nghệ và tổ chức sản xuất có thể đi trước cả điều kiện tự nhiên. Và khi thực tiễn được doanh nghiệp chứng minh, tư duy chính sách cũng buộc phải thay đổi theo.

Vị cựu Bộ trưởng nói về DN "thách thức" lý thuyết trời Tây và kỳ tích "Việt Nam xuất khẩu bằng cả châu Phi"- Ảnh 7.

Không chỉ có TH True Milk, ThaiBinh Seed cũng là dẫn chứng tiêu biểu. Từ một doanh nghiệp cổ phần hóa, đơn vị này đã đầu tư dài hạn cho nghiên cứu, chọn tạo giống, tổ chức sản xuất và đưa giống ra thị trường – một lĩnh vực từng được mặc định là “việc của Nhà nước”.

Theo ông Phát, các giống lúa của ThaiBinh Seed hiện được gieo trồng trên diện tích khoảng 1,4 triệu ha, tương đương khoảng 20% diện tích lúa cả nước. ThaiBinh Seed đã tạo ra giống lúa thuần năng suất cao không thua kém lúa lai mà lại có chất lượng cao. Nước ta có thể chủ động sản xuất hạt giống tại chỗ thay vì phải nhập khẩu mỗi vụ

“ Đây là minh chứng cho thấy doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn có thể đứng ở trung tâm đổi mới giống cây trồng, nếu có năng lực nghiên cứu và cam kết dài hạn với nông dân ,” ông Phát nói.

Theo ông Phát, ThaiBinh Seed đã cho thấy cách mà một doanh nghiệp AHLĐ đã vượt qua giới hạn tạm thời của chính sách. Họ không chê trách, không đòi hỏi, chỉ kiên trì làm tốt việc mà hệ thống lâu nay mặc định là “trách nhiệm của Nhà nước” – nghiên cứu, chọn tạo và làm chủ giống cây trồng.

Khi giống được gieo trồng trên diện rộng, năng suất và hiệu quả được kiểm chứng qua từng mùa vụ, được hàng triệu hộ nông dân tin tưởng thì tư duy quản lý phải dịch chuyển: từ chỗ coi doanh nghiệp tư nhân là lực lượng phụ trợ, sang thừa nhận họ có thể giữ vai trò trung tâm cùng với các viện nghiên cứu, trường đại học trong những khâu cốt lõi nhất của an ninh lương thực.

Ở nghĩa đó, ThaiBinh Seed không chỉ là một doanh nghiệp giống thành công, mà là một tác nhân đã góp phần tái định nghĩa vai trò kinh tế tư nhân trong nông nghiệp Việt Nam.

KÝ ỨC CỦA VỊ CỰU BỘ TRƯỞNG

Nhắc đến các AHLĐ nông nghiệp, ông Phát không chỉ nói bằng lý thuyết, mà từ chính những ký ức chính trị của mình. Ông nhớ rõ năm 2013, khi miền Bắc trải qua một đợt rét đậm, rét hại khắc nghiệt, khiến hơn 100.000 ha lúa bị thiệt hại nặng.

Trong tâm bão dư luận, một số doanh nghiệp cung ứng giống lớn nhất khu vực bị chỉ trích gay gắt, và nhiều địa phương kiến nghị vụ việc lên tận nghị trường Quốc hội.

“Khi đó, trách nhiệm của tôi là phải báo cáo đúng sự thật ,” ông nhớ lại. Sau khi làm việc với các cơ quan chuyên môn và địa phương, kết luận được đưa ra: nguyên nhân chính là thời tiết cực đoan, không phải chất lượng hạt giống.

Trước Quốc hội, ông đứng lên bảo vệ sự thật khoa học, để giữ công bằng cho nông dân cũng như cho chính những quyết định chính sách sau đó.

Riêng ThaiBinh Seed đã không chọn dừng ở lời phân xử của ông Phát. Họ trả lời bằng hành động: cấp miễn phí 1.063 tấn lúa giống để nông dân gieo cấy lại. Kết quả, lúa sinh trưởng tốt, năng suất cao. Chính mùa vụ sau đó đã trả lại sự trong sạch cho doanh nghiệp – theo cách thuyết phục hơn mọi cuộc tranh luận.

“ Cuối cùng thì thực tiễn mới là câu trả lời rõ ràng nhất ”, ông Phát nói.

Vị cựu Bộ trưởng nói về DN "thách thức" lý thuyết trời Tây và kỳ tích "Việt Nam xuất khẩu bằng cả châu Phi"- Ảnh 8.

Trong suốt thời gian theo dõi sự phát triển của các doanh nghiệp lớn ngành nông nghiệp, ông Phát luôn giữ thái độ thận trọng. Với ông, nông nghiệp là lĩnh vực chịu rủi ro cao bậc nhất, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt và địa chính trị thế giới biến động khó lường. Thách thức càng lớn hơn khi địa hình Việt Nam trải dài qua nhiều vĩ tuyến, khiến một mô hình hay kỹ thuật thành công ở địa phương này chưa chắc có thể nhân rộng sang địa phương khác.

Nông nghiệp Việt Nam lại gắn với hàng triệu hộ sản xuất nhỏ lẻ, mỗi hộ một điều kiện, hoàn cảnh khác nhau. Muốn tạo ra sản lượng hàng hóa lớn, doanh nghiệp buộc phải làm việc với hàng nghìn, thậm chí hàng triệu nông dân, và bài toán khó nhất là làm sao tất cả cùng tuân thủ một tiêu chuẩn chung.

Chính vì vậy, doanh nghiệp nông nghiệp là động lực quan trọng của xuất khẩu, sản xuất, ứng dụng công nghệ…, có thể kéo kinh tế địa phương và cả quốc gia đi lên. “ Họ là con đường nhanh nhất giúp nông dân làm giàu – nhưng cũng có thể gây thiệt hại khôn lường trên diện rộng nếu thất bại ”.

Từ những trải nghiệm đó, ông cho rằng vai trò của những doanh nghiệp Anh hùng Lao động ngành nông nghiệp là phải làm thật, nói thật và sẵn sàng chịu trách nhiệm đến cùng với nông dân. “ Khi cả một tập thể được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, thì mỗi cá nhân trong tập thể ấy đều phải sống đúng với danh hiệu đó ”, ông nói. “ Doanh nghiệp đi trước không phải để hưởng ưu đãi chính sách, mà để mở đường. Lợi ích quốc gia và sinh kế của hàng triệu hộ nông dân phải luôn được đặt lên hàng đầu ”.

Vị cựu Bộ trưởng nói về DN "thách thức" lý thuyết trời Tây và kỳ tích "Việt Nam xuất khẩu bằng cả châu Phi"- Ảnh 9.

NÔNG NGHIỆP – TRỤ ĐỠ THẦM LẶNG CỦA DÂN TỘC

Khi nói đến nông nghiệp, nhiều người vẫn nhìn nó như một ngành sản xuất thuần túy. Nhưng ông Phát cho rằng, ở quy mô quốc gia, nông nghiệp là trụ đỡ của phát triển dài hạn. “ Bởi vì phát triển bền vững là sự cân bằng đồng thời giữa kinh tế, môi trường, xã hội – và nông nghiệp là nền tảng của cả ba ”.

Trong những thời điểm khó khăn nhất của đất nước - từ khủng hoảng kinh tế đến thiên tai, dịch bệnh - nông nghiệp luôn là lĩnh vực hấp thụ lao động, giữ ổn định đời sống xã hội và bảo đảm an ninh lương thực. Mặt bằng giá lương thực, thực phẩm ở Việt Nam rất thấp chính là nền tảng quan trọng để xã hội đứng vững và nền kinh tế phục hồi nhanh sau mỗi cú sốc.

Xa hơn, nông nghiệp tạo ra không gian sinh thái cho thế hệ mai sau: đất đai, nguồn nước, đa dạng sinh học – những thứ nếu đã mất đi thì rất khó, thậm chí không thể phục hồi.

Vị cựu Bộ trưởng nói về DN "thách thức" lý thuyết trời Tây và kỳ tích "Việt Nam xuất khẩu bằng cả châu Phi"- Ảnh 10.

Ảnh: Nhân Dân.

Tuy nhiên, ông Phát nhấn mạnh một thực tế đáng lo ngại: quỹ đất nông nghiệp của Việt Nam đang thu hẹp từng ngày và sẽ không thể lấy lại. Nhiều quốc gia chọn cách trợ cấp mạnh mẽ để bảo vệ nông nghiệp. Họ chấp nhận đẩy giá nông sản lên rất cao để giữ vững sản xuất trong nước. Nhưng theo ông Phát, dù đã làm vậy, diện tích đất nông nghiệp ở một số nước phát triển vẫn không ngừng suy giảm theo từng năm.

Việt Nam không có dư địa ngân sách và mức thu nhập bình quân đủ cao để đi theo mô hình đó. Hơn nữa, trợ cấp nhiều có thể làm giảm động ilực đổi mới. Vì vậy, con đường của Việt Nam chỉ có thể là khoa học công nghệ và tổ chức lại sản xuất. Từ giống cây trồng, vật nuôi có hàm lượng khoa học cao, cơ giới hóa, tự động hóa, đến chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo…, toàn bộ chuỗi sản xuất phải được tối ưu. Qua đó sẽ nâng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị diện tích.

Muốn công nghệ phát huy hết sức mạnh, thể chế buộc phải đi trước hoặc ít nhất là theo kịp. Vai trò then chốt của Nhà nước trong giai đoạn tới là mở không gian thử nghiệm cho những cách làm mới, bảo vệ những người dám đi trước, và từ đó đúc rút thành chính sách. “ Những sáng kiến nảy sinh từ thực tiễn luôn có sức sống lâu bền hơn các thiết kế thuần lý thuyết ”, ông nhấn mạnh.

Khi Nhà nước tạo điều kiện, những AHLĐ nông nghiệp sẽ xuất hiện – như những người mở đường. Chỉ cần nông nghiệp còn là trụ đỡ của quốc gia, việc tạo điều kiện để ngành có thêm nhiều anh hùng chính là điều kiện để chính sách có thể đi cùng thực tiễn – và đủ năng lực vươn xa hơn.