Người Việt đầu tiên làm bác sĩ tại bệnh viện da liễu hàng đầu Pháp: Bỏ phòng khám hái ra tiền, nắm tay bệnh nhân phong khi cả làng sợ hãi và tự cho đỉa cắn để cứu dân

Admin
Đằng sau danh hiệu một trong những giáo sư y khoa đầu tiên của Việt Nam là câu chuyện về một người thầy thuốc đặt con người lên trên danh vọng. Người thầy thuốc ấy chính là GS.BS Đặng Vũ Hỷ!

Từng tốt nghiệp bác sĩ nội trú chuyên ngành Da liễu tại Paris, được tuyển dụng vào một bệnh viện lớn ở Pháp, trở về nước có phòng khám tư nổi tiếng và cuộc sống sung túc ở Hà Nội, GS Đặng Vũ Hỷ lại đưa ra những lựa chọn khiến nhiều người bất ngờ. Ông từ bỏ vị trí danh giá, tham gia kháng chiến, rồi dành phần lớn sự nghiệp để nghiên cứu, điều trị bệnh phong và bảo vệ những người bệnh từng bị cộng đồng xa lánh. Đằng sau danh hiệu một trong những giáo sư y khoa đầu tiên của Việt Nam là câu chuyện về một người thầy thuốc đặt con người lên trên danh vọng.

Từ chàng trai làng Hành Thiện đến bác sĩ Việt Nam đầu tiên làm việc tại bệnh viện Saint-Lazare (Paris, Pháp)

GS.BS Đặng Vũ Hỷ sinh ngày 17/3/1910 tại làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), trong một gia đình có truyền thống khoa bảng. Thân mẫu ông là nữ sĩ Mộng Lan, người có thơ đăng trên Nam Phong tạp chí. Ông nội là cử nhân Đặng Vũ Trợ, từng làm Tri phủ Nho Quan.

 - Ảnh 1.

Được gia đình tạo điều kiện học hành từ nhỏ, Đặng Vũ Hỷ sớm bộc lộ năng lực học tập nổi bật. Sau khi hoàn thành bậc tiểu học tại Nam Định, ông lên Hà Nội theo học Trường Albert Sarraut. Năm 1929, ông đỗ Tú tài toàn phần ban Triết học, sau đó thi vào Trường Đại học Y khoa Hà Nội, thường được gọi là Trường Thuốc.

Sau 4 năm học tập, ông sang Pháp tiếp tục chương trình y khoa tại Đại học Y khoa Paris. Năm 1937, Đặng Vũ Hỷ tốt nghiệp bác sĩ nội trú chuyên ngành Da liễu với luận văn nghiên cứu về bệnh giang mai buồng trứng. Công trình này được xuất bản bằng tiếng Pháp tại Paris.

Đặc biệt, ông được tuyển dụng làm việc tại Bệnh viện Saint-Lazare ở Paris, một cơ sở chuyên về các bệnh da liễu và hoa liễu. Theo tư liệu của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, ông là bác sĩ Việt Nam đầu tiên được tuyển dụng làm việc tại bệnh viện này.

Với một bác sĩ trẻ người Việt ở thập niên 1930, đây là thành tựu đáng kể. Ông có cơ hội tiếp tục phát triển sự nghiệp tại một trong những trung tâm y khoa lớn của châu Âu, nhưng lựa chọn tiếp theo lại đưa ông trở về quê hương.

Từ bỏ vị trí bác sĩ trưởng, không chấp nhận cách đối xử bất công với người lao động

Năm 1937, sau khi trở về Việt Nam, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ được mời làm bác sĩ trưởng Bệnh viện mỏ than Đông Triều. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian, ông quyết định từ chức.

Theo tư liệu về cuộc đời ông được đăng trên Tạp chí Một Thế Giới, nguyên nhân là ông không chấp nhận cách chủ mỏ đối xử hà khắc với công nhân bản địa. Tháng 8/1938, ông rời vị trí này, trở về Hà Nội mở phòng khám tư chuyên điều trị các bệnh da liễu.

Thời điểm ấy, một bác sĩ được đào tạo tại Pháp, từng làm việc ở Paris như Đặng Vũ Hỷ có nhiều lợi thế để xây dựng sự nghiệp. Phòng khám của ông nhanh chóng nổi tiếng, thu hút đông bệnh nhân. Ông cũng có cuộc sống gia đình sung túc, kết hôn với bà Phạm Thị Thứ, con gái học giả Phạm Quỳnh.

Thế nhưng, khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ông tiếp tục đưa ra một quyết định lớn: đóng cửa phòng khám, từ bỏ cuộc sống riêng ổn định để tham gia công việc phục vụ đất nước.

Theo lời mời của GS Hồ Đắc Di, ông tham gia giảng dạy tại Trường Đại học Y Dược Hà Nội, đồng thời phụ trách phòng khám và trực tiếp điều trị bệnh nhân tại Nhà thương Đồn Thủy.

 - Ảnh 2.

Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, ông đưa vợ và người con trai mới sinh về quê Nam Định lánh nạn, còn mình gia nhập Vệ quốc đoàn, làm công tác quân y.

Đầu năm 1947, ông được phân công phụ trách Trạm Quân y Cổ Lễ tại mặt trận Hà Nam Ninh. Trong điều kiện chiến tranh thiếu thốn thuốc men, băng gạc và lương thực, người bác sĩ từng làm việc tại Paris phải thích nghi với môi trường hoàn toàn khác. Tại đây, ông tổ chức hoạt động quân y, chăm sóc thương binh và người dân.

Năm 1948, ông đảm nhiệm cương vị Trưởng ty Y tế Ninh Bình. Đến năm 1950, ông được điều động giảng dạy tại Trường Y sĩ Liên khu III-IV ở Thanh Hóa, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ y tế phục vụ kháng chiến.

Người giáo sư sẵn sàng nắm tay bệnh nhân phong khi cả làng còn sợ hãi

Sau năm 1954, GS Đặng Vũ Hỷ trở về Hà Nội, tiếp tục công việc chuyên môn và giảng dạy. Năm 1955, ông được Nhà nước phong học hàm Giáo sư trong đợt đầu tiên của nền y học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cùng 8 giáo sư y khoa khác.

Ông được giao làm Chủ nhiệm Bộ môn Da liễu Trường Đại học Y khoa Hà Nội, kiêm Chủ nhiệm Khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai. Đây là giai đoạn ông có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng nền móng cho chuyên ngành Da liễu Việt Nam.

Từ năm 1954 đến 1972, ông công bố 48 công trình nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước, đồng thời biên soạn nhiều sách chuyên môn về bệnh phong, bệnh hoa liễu và các bệnh ngoài da.

Nhưng điều khiến nhiều thế hệ học trò, đồng nghiệp nhớ đến GS Đặng Vũ Hỷ không chỉ là kiến thức chuyên môn mà còn là cách ông đối xử với người bệnh.

Thời đó, bệnh phong (còn gọi là bệnh hủi) là căn bệnh gắn với nhiều định kiến. Người mắc bệnh thường phải chịu sự xa lánh, thậm chí bị cộng đồng đẩy ra sống riêng vì nỗi sợ lây nhiễm.

 - Ảnh 3.

Một câu chuyện được lưu truyền trong gia đình GS Đặng Vũ Hỷ cho thấy cách ông đối diện với định kiến ấy.

Trong thời gian làm Trưởng ty Y tế Ninh Bình, ông nghe người dân kể về một cụ già bị nghi mắc bệnh phong, phải sống trong chiếc lều giữa đồng suốt nhiều năm. Dân làng sợ lây nên không ai dám tiếp xúc gần, thức ăn chỉ được mang đến đặt ở ngoài lều để người bệnh tự ra lấy.

Nghe chuyện, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ nhất quyết tìm đến khám cho cụ. Sau khi thăm khám, ông xác định người này không mắc bệnh phong. Để người dân tin tưởng, ông không chỉ giải thích mà còn trực tiếp cầm tay cụ già, đưa cụ trở về làng và bảo lãnh để cụ được sinh sống cùng cộng đồng.

Ông tiếp tục đến cho thuốc điều trị hằng ngày. Sau đó, cụ già khỏi bệnh và có thể sống bình thường trong làng.

Một câu chuyện khác cũng thể hiện cách làm việc thực tế của vị giáo sư. Tại vùng đồng chiêm trũng Thư Điền, người dân thường xuyên khổ sở vì đỉa bám khi lội ruộng. Ông đã nghiên cứu, chế biến một loại thuốc bôi chân từ những nguyên liệu thông thường, rẻ tiền, dễ kiếm để phòng đỉa.

Để người dân tin tưởng, ông tự mình thử nghiệm trước mặt mọi người: một chân được bôi thuốc, chân còn lại không bôi rồi cùng đưa xuống vùng nước có nhiều đỉa. Kết quả, đỉa bám vào chân không bôi thuốc, trong khi chân được bôi thuốc không có con nào bám vào.

Những câu chuyện ấy cho thấy ông không chỉ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm hay giảng dạy trên giảng đường. Với GS Đặng Vũ Hỷ, một phương pháp y khoa có giá trị phải giải quyết được vấn đề thực tế của người bệnh, phù hợp với điều kiện sống và khả năng tiếp cận của người dân.

Đặc biệt, ông luôn coi trọng việc xóa bỏ mặc cảm, giúp người mắc bệnh phong được đối xử bình đẳng và có cơ hội hòa nhập cộng đồng.

Được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, tên tuổi trở thành một dấu mốc của ngành Da liễu Việt Nam

Trong gần 20 năm sau khi trở về Hà Nội, GS Đặng Vũ Hỷ vừa nghiên cứu, khám chữa bệnh, vừa đào tạo nhiều thế hệ bác sĩ. Trên cương vị Chủ nhiệm Khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai kiêm Chủ nhiệm Bộ môn Da liễu Trường Đại học Y Hà Nội, ông góp phần xây dựng chuyên ngành Da liễu từ những ngày đầu còn nhiều thiếu thốn.

Ông qua đời ngày 4/10/1972, hưởng thọ 62 tuổi. Đến năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ đợt đầu tiên cho những công trình nghiên cứu có giá trị trong lĩnh vực da liễu và bệnh phong.

Tên ông được đặt cho một con phố tại Hà Nội. Ngành Da liễu cũng có Giải thưởng Đặng Vũ Hỷ nhằm ghi nhận những đóng góp nổi bật của các bác sĩ trong nghiên cứu và điều trị.

Hơn nửa thế kỷ sau ngày ông qua đời, những dấu ấn của GS Đặng Vũ Hỷ vẫn được nhắc lại trong lịch sử y học Việt Nam. Ông là một trong những người đặt nền móng cho chuyên ngành Da liễu, một người thầy đào tạo nhiều thế hệ bác sĩ và cũng là người thầy thuốc từng bước qua nỗi sợ hãi, định kiến để đến gần hơn với những bệnh nhân bị cộng đồng xa lánh.

Có lẽ, điều đáng nhớ nhất về vị giáo sư từng làm việc tại Paris không chỉ nằm ở những công trình khoa học hay danh hiệu ông đạt được, mà còn ở cách ông đối xử với người bệnh: dù họ là ai, mắc căn bệnh gì, họ vẫn xứng đáng được thăm khám, chữa trị và tôn trọng.

(Ảnh: Internet)