Doanh nghiệp - Doanh nhân

Lợi nhuận doanh nghiệp tăng mạnh, dòng tiền vẫn đứng ngoài thị trường

Admin

Bức tranh kinh tế và lợi nhuận doanh nghiệp quý III-2026 tăng trưởng tích cực nhưng VN-Index vẫn tiếp tục xu hướng đi xuống trong tuần đầu tháng 11-2026, khối ngoại đẩy mạnh bán ròng. Xu hướng này kéo dài từ tháng 9 đến nay. Dù lãi suất có dấu hiệu hạ nhiệt, thị trường vẫn cần dòng tiền trở lại để hiện thực hóa kỳ vọng tạo đáy và phục hồi.

Khối ngoại bán ròng kỷ lục, thanh khoản uy yếu

Tháng 10-2026, VN-Index đóng cửa tại 1.741,62 điểm, giảm 1,53% so với cuối tháng 9 và giảm 2,40% so với đầu năm. Đây là tháng điều chỉnh thứ hai liên tiếp của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Đáng chú ý, đà suy giảm diễn ra trong bối cảnh kết quả kinh doanh quý III của các doanh nghiệp tương đối khả quan. Theo dữ liệu tổng hợp, đến hết kỳ báo cáo, 988 doanh nghiệp đã công bố kết quả kinh doanh quý III-2026, đại diện 98,39% vốn hóa toàn thị trường. Lợi nhuận sau thuế tăng 47,11% so với cùng kỳ năm trước, tiếp nối đà tăng 36,5% trong quý I và 49,1% trong quý II.

Bức tranh kinh tế từ các dữ liệu kết quả kinh doanh quý III-2026 vừa được nhiều doanh nghiệp công bố cho thấy nhiều con số khả quan. Ảnh: Mơ Nguyễn

Tuy nhiên, sự tương phản giữa tăng trưởng lợi nhuận và diễn biến giá cổ phiếu cho thấy dòng tiền trên thị trường không phản ứng đồng đều với những con số tích cực.

Xét theo quy mô vốn hóa, tăng trưởng lợi nhuận đang tập trung rõ nét ở nhóm doanh nghiệp lớn. VN30 ghi nhận mức tăng lợi nhuận 80,5%, cao hơn đáng kể so với mức 60,5% của quý II. Trong khi đó, VNMidcap giảm 8,2%, đảo chiều từ mức tăng 32,6% của quý trước; VNSmallcap giảm 19,6%, đánh dấu quý suy giảm thứ hai liên tiếp.

Kết quả kinh doanh quý III của các nhóm ngành niêm yết theo dữ liệu FiiinPro và TPS. Ảnh: KTTT

Sự phân hóa cũng thể hiện rõ giữa các ngành. Có 11 ngành ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận dương, trong đó dầu khí tăng 346%, bất động sản tăng 344,7%, truyền thông tăng 285,8%, tài nguyên cơ bản tăng 182,8% và bán lẻ tăng 80,2%. Tuy nhiên, mức tăng đột biến của một số ngành cần được nhìn nhận trong tương quan với nền lợi nhuận thấp của cùng kỳ năm trước.

Ngược lại, dịch vụ tài chính giảm 44,9%, xây dựng và vật liệu giảm 36,5%, hàng cá nhân và gia dụng giảm 20,9%, viễn thông giảm 15,6%.

Ngành ngân hàng tiếp tục duy trì vai trò ổn định với mức tăng trưởng lợi nhuận 21,1%, toàn bộ 28 doanh nghiệp trong nhóm đều đã công bố kết quả kinh doanh. Đây là quý thứ năm liên tiếp lợi nhuận ngành duy trì mức tăng trưởng trong khoảng 13–25%.

Một góc nhìn khác từ báo cáo của Công ty Chứng khoán SSI cho thấy, lợi nhuận sau thuế thuộc cổ đông công ty mẹ của các doanh nghiệp trên HOSE tăng hơn 50% trong quý III. Tuy nhiên, riêng nhóm Vingroup đóng góp khoảng 55% mức tăng này. Nếu loại trừ nhóm doanh nghiệp trên, lợi nhuận toàn thị trường chỉ tăng khoảng 24%, chậm lại so với mức tăng khoảng 30% trong nửa đầu năm.

Điều này cho thấy tăng trưởng lợi nhuận vẫn tích cực nhưng mức độ lan tỏa chưa thực sự rộng. Nhà đầu tư vì thế không thể chỉ nhìn vào mức tăng trưởng chung mà cần quan tâm doanh nghiệp nào đang tạo ra lợi nhuận, động lực tăng trưởng có bền vững hay không và khả năng duy trì kết quả trong các quý tiếp theo.

Một trong những lực cản lớn nhất đối với thị trường trong tháng 10 là áp lực bán ròng từ nhà đầu tư nước ngoài.

Theo thống kê của báo cáo xu hướng thị trường tháng 11 của Công ty Chứng khoán Tiên Phong (TPS), trên HOSE, khối ngoại bán ròng 24.024 tỷ đồng trong tháng 10, mức cao nhất kể từ đầu năm và gần gấp năm lần tháng trước. Đáng chú ý, chuỗi bán ròng kéo dài 20 phiên liên tiếp, dài nhất trong hai năm.

Lũy kế từ đầu năm, giá trị bán ròng của khối ngoại trên HOSE đạt khoảng 121.906 tỷ đồng; tính trong 12 tháng gần nhất lên khoảng 126.400 tỷ đồng.

Đáng chú ý, một phần đáng kể giá trị bán ròng đến từ các giao dịch thỏa thuận quy mô lớn. Trong tháng 10, khối ngoại bán ròng khoảng 10.519 tỷ đồng qua phương thức này, tập trung tại MCH ngày 9-10 với giá trị 9.641 tỷ đồng và HDB đầu tháng với 3.170 tỷ đồng. Ở chiều ngược lại, MSR được mua ròng thỏa thuận 3.240 tỷ đồng.

Áp lực bán qua phương thức khớp lệnh cũng không nhỏ. PNJ và FPT lần lượt bị bán ròng 2.135 tỷ đồng và 1.870 tỷ đồng. Nhóm ngân hàng gồm ACB, MSB, STB, BID, VCB và HDB ghi nhận tổng giá trị bán ròng khoảng 2.900 tỷ đồng.

Trong khi đó, dòng tiền mua vào có quy mô khiêm tốn hơn, tập trung ở MSN với 645 tỷ đồng, HPG với 272 tỷ đồng cùng một số cổ phiếu như SHB, DCM, VIB, FRT và MBB.

Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên HOSE giảm xuống còn 13% vào ngày 30-10, thấp hơn 0,13 điểm phần trăm so với cuối tháng 9 và giảm khoảng 2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Ở góc độ thanh khoản, giá trị khớp lệnh bình quân tháng 10 đạt 12.380 tỷ đồng/phiên, giảm 6,88% so với tháng trước. Báo cáo của SSI cũng ghi nhận giá trị giao dịch bình quân giảm 3,1%, xuống 17.200 tỷ đồng/phiên. Hai số liệu được thống kê theo các phạm vi giao dịch khác nhau, nhưng cùng phản ánh xu hướng suy yếu của dòng tiền.

Lãi suất hạ nhiệt , chưa đủ tạo cú hích cho chứng khoán

Một yếu tố được nhà đầu tư quan tâm trong tháng 11 là diễn biến lãi suất, đặc biệt trong bối cảnh chi phí vốn đang là một trong những rào cản đối với cả doanh nghiệp và thị trường tài chính.

Theo TPS, mặt bằng lãi suất đang dần ổn định sau giai đoạn tăng. Lạm phát cơ bản hạ nhiệt, áp lực huy động vốn bớt căng thẳng và định hướng điều hành đang hỗ trợ xu hướng giảm lãi suất. Tuy nhiên, tín hiệu này mới ở giai đoạn đầu và chưa đồng đều giữa các thị trường.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất qua đêm trong tháng 10 phổ biến quanh mức 3–4%. Mức cao nhất ghi nhận là 5,79%, chủ yếu do nhu cầu thanh khoản vào cuối tháng, thấp hơn mức đỉnh 6,95% của tháng trước.

Đáng chú ý, lãi suất kỳ hạn 9 tháng giảm còn 7,11%, từ mức 8,55% trong tháng 9. Diễn biến này cho thấy áp lực lãi suất trung hạn đang có dấu hiệu hạ nhiệt.

Sau ngày 19-10 và Công văn 9736/NHNN-CSTT, lãi suất niêm yết tại quầy đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên đã giảm khoảng 0,4–0,5 điểm phần trăm. Dù vậy, lãi suất trực tuyến và chứng chỉ tiền gửi vẫn neo cao, phản ánh nhu cầu thu hút nguồn vốn ổn định của các ngân hàng còn lớn.

Đến giữa tháng 10, huy động vốn tăng 11,22%, gần với tốc độ tăng trưởng tín dụng 11,44%. Chênh lệch quy mô giữa huy động và tín dụng thu hẹp từ khoảng 2,8 triệu tỷ đồng xuống 2,35 triệu tỷ đồng. Đây là tín hiệu cho thấy cân đối nguồn vốn của hệ thống ngân hàng đang được cải thiện.

Tuy nhiên, khả năng giảm chi phí vốn vẫn cần thêm thời gian để kiểm chứng. Theo SSI, tín dụng tăng 12,6% từ đầu năm, nhanh hơn tốc độ huy động, trong khi lợi suất trái phiếu Chính phủ dài hạn vẫn ở mức cao. Do đó, chính sách tiền tệ được dự báo tiếp tục hỗ trợ có trọng tâm thay vì nới lỏng trên diện rộng. Nếu lãi suất huy động thực sự đi xuống và xu hướng này lan tỏa sang chi phí vốn của doanh nghiệp, đây có thể trở thành chất xúc tác quan trọng đối với thị trường chứng khoán.

Dù còn nhiều thách thức, triển vọng kinh tế vĩ mô vẫn đang tạo nền tảng hỗ trợ cho thị trường chứng khoán trong những tháng cuối năm.

Theo SSI, GDP quý III/2026 tăng 9,95% so với cùng kỳ, đưa mức tăng trưởng 9 tháng lên

SSI dự báo GDP quý IV có thể tăng khoảng 10,5%, đưa tăng trưởng cả năm 2026 lên khoảng 9,4%, thấp hơn mục tiêu 10% của Chính phủ. Trong chiến lược đầu tư tháng 11, SSI khuyến nghị ưu tiên tích lũy trong các nhịp điều chỉnh thay vì mua đuổi, tập trung vào doanh nghiệp có lợi nhuận vững vàng trong quý IV-2026 và năm 2027, hưởng lợi từ đầu tư công và ít phụ thuộc vào điều kiện lãi suất thấp.